4511357996_980x89.jpg 4511358053_64x82.jpg 4511342048_78x78.jpg

Gia Đình

Sư Đoàn 18 Bộ Binh

“Trận gió thu phong rụng lá vàng,

Lá rơi hàng xóm, lá bay sang.

Vàng bay mấy lá…”

(Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu)

 

Trời đã vào thu. Bầu trời thấp và xám. Hàng cây phong bên đường lá xanh đã đổi  màu. Lá vàng rơi lả tả trước mỗi cơn gió thu phong. Đã qua rồi ba mươi bốn mùa lá rụng, kể từ mùa Xuân tang tóc năm đó. Nhìn những chiếc lá vàng rơi, từng chiếc, từng chiếc lìa cành, người lính già xa quê hương không khỏi chạnh lòng nhớ về cố quốc.

 

 Những người lính sau khi được lệnh buông súng rã ngũ, hối hả trở về nhà. Nhưng nhà không còn là nhà của mình. Nhà đã bị bọn “cách mạng 30” tịch thu, đuổi thân nhân ra đường và hôi của. Đứng trước tình thế chẳng đặng dừng, người lính tìm đường vượt biên. Nhưng hầu hết bị bắt vào tù, bị đẩy đi vùng “kinh tế mới”, hay khá hơn, bị buộc phải trở về quê. Ngày tháng khốn khó chồng chất, nhiều người lính đã ra đi về miền miên viễn.

 

 Không có thứ tình nào trên đời đậm đà như tình lính. Đó là tình “Huynh Đệ Chi Binh”.“Huynh Đệ Chi Binh là mình cùng chung đời lính, khác chi nhân tình…”. Họ từng chia sẻ ngọt bùi trong lúc chinh chiến. Họ chia nhau điếu thuốc, chia nhau ngụm nước trong chiếc bi-đông đã cạn khô. Ở tuổi gần đất xa trời, họ tứ tán mỗi người một phương. Người thì sống cuộc đời lưu vong tỵ nạn, kẻ phải sống đọa đày dưới “thiên đường cộng sản”.

 

 Họ là những cựu chiến binh của phe thua trận. Họ đã chiến đấu đến cùng. Họ chỉ  thôi chiến đấu khi được lệnh ngưng bắn. Lệnh nói rõ, các đơn vị ở đâu nằm đó, đợi bàn giao. Nhưng họ không chịu bàn giao cho kẻ thù, đã tự động tan hàng rã ngũ, khi nghe chính vị đứng đầu VNCH tuyên bố giải tán chính quyền từ cấp trung ương đến xã ấp. Lệnh giải tán hay là lệnh đầu hàng do Đại tướng Dương Văn Minh, vị Tổng Thống kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội 48 giờ đọc trên đài phát thanh Quốc gia Sài Gòn. Lệnh ngừng chiến đấu do Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh (VC nằm vùng), nhân danh Trung tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Vĩnh Lộc (đã bỏ chạy), kêu gọi được phát đi từ sáng sớm ngày 30.4.75. Người lính bỡ ngỡ, đợi chờ. Họ không còn thời gian để chạy hay di tản, vì đã chiến đấu đến giờ thứ hai mươi lăm của cuộc chiến. Họ đành để cho địch bắt. Địch lùa họ  vào các trại tù cải tạo mọc lên như nấm. Họ đã bị kẻ chiến thắng hành xác nhiều năm trong chốn lao tù. Con chim đầu đàn của 18, Thiếu tướng Lê Minh Đảo bị nhốt 17 năm. Nếu không có sự can thiệp của quốc tế, và dư luận nhân dân khắp nơi trên thế giới, nhất là vụ Trung cộng xâm lược, dạy cho bài học năm 1979, có lẽ bây giờ những người lính VNCH, đặc biệt là 18 vẫn còn đốn gỗ làm rừng tại vùng núi non tỉnh Thanh Hóa, để rồi chết dần chết mòn nơi chốn đèo heo hút gió!

 

Trước khi Sài Gòn bị thay tên, người ta nghĩ sẽ có cuộc tắm máu. Nhưng sự việc đã không xảy ra. Đúng là Sài Gòn không có cuộc tắm máu khi đạo quân dép râu nón cối của Hồ tặc tràn vào. Nhưng máu của người lính cạn dần, mồ hôi của người lính bị vắt dần đến kiệt quệ trong các địa ngục trần gian. Cũng nhờ sự can thiệp của Chính phủ Hoa Kỳ, các trại tù cải tạo dần dà bị đóng cửa. Những cựu tù đủ điều kiện được cho xuất ngoại qua Mỹ định cư (thật ra là tống khứ một thành phần bất trị, để chúng rảnh tay xây dựng xã hội chũ nghĩa). Người lính bị buộc phải sống cuộc đời lưu vong tỵ nạn, phải nhận quê người làm quê mình. Chỉ vì vận nước không đến với người công chính, những người lính oai hùng trở thành những kẻ chiến bại thê thảm. Nhưng thực sự, họ chưa bao giờ thua trận. Họ không hèn nhác. Họ đã đánh bại Quân đoàn 4/CSBV xâm lăng của Tướng Hoàng Cầm trong 12 ngày đêm tại Xuân Lộc với thành tích hơn 6 ngàn giặc cộng phơi thây, 37 xe tăng do Liên Xô và Trung cộng chế tạo bị phá hũy. Trong lúc cả nước xôn xao, một số tướng lãnh và sĩ quan cao cấp bỏ đơn vị về với gia đình (nói một cách khác, đào ngũ trước địch quân), hay tìm cách thoát thân ra ngoại quốc, nhưng người lính Miền Đông mang trên vai phù hiệu cung tên vẫn bám trụ, vẫn giữ vững tinh thần. Họ không phải là  “siêu nhân”, họ cũng chỉ là những người lính bình thường, họ cũng có gia đình để lo, cũng không muốn chết. Nhưng họ đã ở lại, đã chiến đấu kiên cường. Bởi vì họ có những cấp chỉ huy gương mẫu và xứng đáng. Họ không hề cảm thấy bơ vơ lạc lõng. Lính và cấp chỉ huy từ Tiểu đội đến Tư lệnh Sư đoàn sát cánh bên nhau cùng chiến đấu, và đã chiến thắng. Đó là một chiến thắng lẫy lừng, nhưng là chiến thắng cuối cùng của QLVNCH trước khi cuộc chiến chấm dứt. Những người tạo nên chiến thắng đó là những lính Sư đoàn 18 BB, chiến sĩ mũ nâu của Tiểu đoàn 82/BĐQ, thiên thần mũ đỏ của Lữ đoàn 1 Dù, lính ĐPQ, NQ, và những cán bộ áo đen của Long Khánh. Trận chiến thắng sau cùng và duy nhất này của QLVNCH đã mang một ý nghĩa rất quan trọng khi VNCH đang hấp hối. Họ đã trả lời một cách hùng hồn dư luận quần chúng Mỹ được hướng dẫn bởi đám truyền thông và báo chí phản chiến, bọn chính trị gia chủ bại đang ngự trị tại tòa Bạch Ốc và điện Capitol. Xuân Lộc, thị xã của Long Khánh, một địa danh nhỏ bé của vùng đất đỏ hiền hoà miền Đông Nam Phần, nằm cách Thủ đô Sài Gòn lối 80 cây số, phút chốc đã trở thành một địa danh lịch sử nổi tiếng. Nhưng đã quá muộn, chiến thắng Xuân Lộc không thể làm thay đổi cục diện của cuộc chiến. Định mệnh đã an bài! Tuy nhiên chiến thắng Xuân Lộc cũng chứng tỏ cho thế giới biết đức tính anh hùng của người lính QLVNCH. Một Quân lực dù bách chiến, có thể không bách thắng, nhưng đã giữ vững cho gian sơn Miền Nam được sống yên ổn trong Tự Do và Hạnh Phúc hơn hai mươi năm trời (1954 – 1975).

 

Những người lính chiến năm xưa nay đã già. Người lính trẻ nhất tham dự trận chiến Xuân Lộc năm 1975, nay đã ngoài “ngũ tuần”. Da nhăn, tóc đã bạc (muối nhiều hơn tiêu). Nhưng trông họ vẫn còn phong độ. Giọng nói sang sảng (hương âm vô cải, tấn mao thôi), tiếng cười giòn giã, như tiếng kèn thúc trận năm xưa!

 

TẤM LÒNG NGƯỜI ANH CẢ

 

Do gợi ý của Hằng Minh (Thiếu tướng Lê Minh Đảo, Tư lệnh Sư đoàn kiêm Tư lệnh Mặt trận Xuân Lộc), một cuộc hội ngộ đầy kỷ niệm đã được tổ chức tại Portland, City of Roses của Tiểu bang Oregon, bên bờ biển Thái Bình Dương. Đây chỉ là một cuộc hội ngộ bỏ túi, nhưng đã có sự tham dự hầu hết của những người lính từng tạo nên trận chiến thắng lẫy lừng Xuân Lộc lịch sử tháng tư năm 1975. Đó là một trận chiến không cân sức. Đối phương đã đưa vào 3 sư đoàn (6, 7 và 341 thuộc Quân đoàn 4 của Tướng Hoàng Cầm), thêm một sư đoàn, thêm một trung đoàn ( Sư 325 và Trung đoàn 95B), rồi thêm Quân đoàn 2 của Tướng Lê Trọng Tấn. Đơn vị này sắp nhảy vào vòng chiến, đang xuất hiện ở Rừng Lá, cách Xuân Lộc lối nửa giờ xe Molotova. Nhưng quân CSBV dưới quyền chỉ huy của Văn Tiến Dũng, tên Đại tướng chỉ huy đạo quân xâm lăng vẫn không đè bẹp được Sư đoàn 18BB và các đơn vị QLVNCH tăng phái do Tướng Lê Minh Đảo làm Tư lệnh. Cuối cùng, trong một cuộc họp khẩn cấp tại Lộc Ninh (Thủ đô của cái gọi là Chính phủ Cách Mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam), Lê Đức Thọ (một thứ Thái Thượng Hoàng của Triều đình đỏ BV), Phạm Hùng, và các tên đầu sỏ trong đạo quân xâm lược quyết định né tránh, điều quân đi đường vòng, tiến thẳng về Biên Hòa để dứt điểm Sài Gòn.

 

Một trong những người lính đã đóng góp công lớn, tạo nên

chiến thắng lẩy lừng lịch sử đó là cựu Đại tá Lê Xuân Hiếu,

với danh hiệu thân thương “12”, còn có tên gọi khác là

Hoàng Yến, cựu Trung đoàn trưởng Trung đoàn 43/SĐ18BB.

Do hậu quả của những năm dài băng rừng lội suối, gối đất

nằm sương, và những năm bị đọa đày trong chốn lao tù cộng

sản, sức khỏe của “12” không khá. “12” không có cơ hội gặp

lại đồng đội trong những lần gia đình 18 họp mặt. Tình trạng

sức khõe không cho phép ông thực hiện được những chuyến

đi. xa. Nhưng những người lính cùng chiến đấu năm xưa không

quên ông, đã hẹn nhau tìm đến gặp ông. Thế là có cuộc hội

ngộ bỏ túi. Làm sao nói hết những tình cảm thân thương

mà những đồng đội cũ dành cho ông. Dưới mắt họ, ông đúng

là một người lính anh hùng, một cấp chỉ huy đức độ và đầy mưu

lược. Trong chuyện trò nhắc lại những kỷ niệm xưa, Hằng Minh,

một người bạn cùng khóa 10 Võ Bị Đà Lạt, cũng là cấp chỉ huy

của ông, đã đặc biệt vinh danh ông. Cuộc hội ngộ của những

người lính 18, có sự hiện diện của Trung tướng Phạm Quốc Thuần (cựu Tư lệnh Quân đoàn III kiêm Quân khu 3), Thiếu tá Vương Mộng Long (cựu TĐT/TĐ82/BĐQ, đơn vị tăng phái, nhờ những kinh nghiệm diệt tăng ngoài Vùng 2, đã hạ nhiều xe tăng địch tại mặt trận Xuân Lộc). Các cựu chiến binh Sư đoàn 18BB gồm có Đại tá Hứa Yến Lến (cựu Tham mưu trưởng Hành quân SĐ); Trung tá Xuân, cựu Trưởng Phòng 4; Trung tá Xinh, Thiếu tá Hiệp (cựu Trưởng Phòng Nhất); Hoa (cựu ĐĐT/Truyền tin); Thái (Sĩ quan Điện ảnh); Phúc (Sĩ quan Biệt đội Quân báo); Chế (cựu TĐT/TĐ2/43), Liêu (cựu ĐĐT/TĐ3/52); Thành (cựu ĐĐT/TĐ1/43) và một sĩ quan thuộc Sư đoàn 23BB (bạn cùng khóa với Thái), cùng phu nhân của những người lính.

 

GIỌT NƯỚC MẮT CỦA NGƯỜI LÍNH

 

Ba mươi bốn năm đã trôi qua, biến cố 30.4.75 đến quá đột ngột, những người lính hữu công đã không có dịp được tuyên dương.

Mặc dù lúc này VNCH không còn, QLVNCH đã bị bức tử. Nhưng người lính không bao giờ chết, họ chỉ mờ dần theo năm tháng, như

cách nói của danh tướng McArthur “Old soldiers never die, they just fade away!”

 

 Người lính Lê Xuân Hiếu cảm động, nghẹn ngào đến rơi lệ, nói không nên lời khi đáp lại những tình cảm thân thương của những

cựu chiến binh 18 do Hằng Minh đại diện, trao tặng tấm plaque và bộ quân phục của người lính QLVNCH để làm kỷ niệm một thời

vẫy vùng ngang dọc đã qua.

 

Cựu Đại tá Lê Xuân Hiếu, cựu CĐT/CĐ43, dưới quyền chỉ huy của ông trong trận Xuân Lộc, gồm các đơn vị cơ hữu (Tiểu đoàn 1, 2,

3, Đại đội Trinh sát 43), và tăng phái (Tiểu đoàn 2/52, một đơn vị thiếp giáp của Thiết đoàn 5 Kỵ Binh, và Tiểu đoàn 82 BĐQ), đã

chống trả oanh liệt cuộc tấn công tàn bạo của Sư 341 và Sư 7 thuộc Quân đoàn 4/CSBV của Tướng Hoàng Cầm. Vòng đai phòng

thủ của CĐ chạy dài từ Núi Thị, qua Cua Heo, Hậu cứ Trung đoàn 52, Hậu cứ Sư đoàn đến Sân bay Thị xã. Chiến đoàn 43 đã không

bất ngờ trước cuộc tấn công tàn bạo của quân CSBV. Chiến đoàn không những giữ vững được phòng tuyến, còn tổ chức phản công

thắng lợi trước những cuộc tấn công biển người có xe tăng yểm trợ của cộng quân.

 

KHÔNG BỎ BẠN BÈ

 

Những người lính “Trấn Không Bảo Quốc” có câu châm ngôn “Không quân không bỏ bạn bè”. Hơn ai hết, người lính bộ binh càng dùng câu châm ngôn đó làm kim chỉ Nam. Ở ngoài trận tiền, người lính chỉ có đồng đội. Họ là những người đồng cam cọng khổ với mình. Đói no, gian khổ, hiểm nguy, cùng nhau chia sẻ. Người lính có thể liều chết để cứu đồng đội mà không hề suy nghĩ đắng đo.

 

Được tin Hùng bị tai nạn xe, nay trở thành một phế nhân. Tôi muốn đến thăm Hùng, nhưng điều kiện không cho phép. Nay nhân chuyến họp mặt bỏ túi, tôi quyết định đi thăm Hùng, một chiến hữu cùng tôi “vào sanh ra tử” trên khắp các chiến trường Vùng 3 chiến thuật, từ Bình Long Anh Dũng hồi mùa hè đỏ lửa năm 1972 đến trận cuối cùng Xuân Lộc tháng Tư năm 1975.

 

Vì bị thương ngay trong những ngày đầu của trận chiến, Hùng đã không có dịp tham dự buổi lễ gắng lon lên một cấp do Tiểu đoàn tổ chức đơn giản tại sân cờ BTL/SĐ  ở Long Bình (sau khi Tiểu đoàn nhận được SVVT từ BTTM thăng một cấp cho tất cả các chiến binh tham dự trận chiến Xuân Lộc), nhưng mặc nhiên, Hùng đã được thăng cấp Đại úy. Đại úy Nguyễn Tri Hùng tốt nghiệp khóa 25 Võ bị Đà Lạt. Hùng và Dương Trọng Khoát cùng khóa, về trình Tiểu đoàn 2/43 trong thời kỳ chiến trường sôi động. Sau một thời gian làm Trung đội trưởng, rồi Đại đội phó, Hùng được chỉ định làm Đại đội trưởng ĐĐ3/2, Khoát chỉ huy ĐĐ1/2. Khi trận chiến Xuân Lộc khai diễn được mấy ngày, hậu cứ Tiểu đoàn tại Núi Thị biến thành căn cứ hỏa lực hùng hậu với 12 khẩu pháo 105 và 155 ly, do Tiểu đoàn 2/43 chịu trách nhiệm bảo vệ. Chính dàn pháo hùng hậu này đã góp công lớn trong chiến thắng Xuân Lộc. Người Pháp thua trận Điện Biên Phủ năm 1954 không phải vì quân bộ chiến, mà vì hỏa lực pháo dồi dào của lực lượng Việt Minh. Rút kinh  nghiệm đó, Quân đoàn 4 của Tướng Cầm cũng áp dụng chiến thuật năm xưa của các bậc đàn anh khi Cầm còn là một Tiểu đoàn trưởng tham dự trận đánh Điện Biên. Nhưng pháo của Cầm không làm tê liệt được pháo của ta. Pháo của Cầm tại mặt trận Xuân Lộc không dấu được trong các hốc núi như Điện Biên Phủ, nhưng với những dàn pháo hiện đại và đạn dược dồi dào, Cầm đã cho đánh phủ đầu các vị trí phòng thủ của Sư đoàn 18. Chính những trận mưa pháo tàn bạo đó của Cầm đã gây thiệt hại khá nhiều cho quân bạn. Hùng là nạn nhân của những trận mưa pháo tàn bạo đó.

 

KIẾP SỐNG MONG MANH

 

Sau cuộc hội ngộ bỏ túi tại Oregan, chúng tôi gồm Hằng Minh (Thiếu tướng TL), Thái Dương (Đại tá TMT/HQ/SĐ), Bảo Định (TĐT 2/43), Thành (ĐĐT thuộc TĐ1/43), Phúc (Biệt Đội Quân Báo/SĐ), và một số thân hữu đã vượt đoạn đường dài lối 3 tiếng đồng hồ, đi Seattle thăm Hùng. Hùng và người con trai 35 tuổi (bị dị tật bẩm sinh) sống trong ngôi nhà hai phòng được trợ cấp. Người vợ còn độ tuổi thanh xuân, nhưng đã sống âm thầm trong ngôi nhà lạnh lùng đó. Ngôi nhà hầu như không có tiếng cười, ít tiếng nói (vì người con chỉ ú ấ, Hùng thì nói năng khó khăn). Khi chúng tôi đến thăm, có lẽ là dịp để cho chị Hùng tâm sự, là dịp để nói cười, mà ngày này qua ngày khác, chị phải sống âm thầm, câm lặng trong ngôi nhà lạnh lẽo và hoang vắng như nấm mồ. Chị Hùng là mẫu người vợ lính can trường và đảm đang.

 

Hùng ngồi yên lặng trên chiếc xe lăn, gần như bất động, khuôn mặt trắng bệch vì đã nhiều ngày thiếu ánh nắng mặt trời. Nét tinh anh không còn, trông đờ đẫn, thật đáng thương!

CUỘC HỘI NGỘ ĐẦY KỶ NIỆM

DSC02317_B IMG_5805_B IMG_5840_A

 Hùng bị tai nạn xe hơi cách đây 6 tháng. Nếu Hùng không cho giãi phẩu, có lẽ Hùng đã không gặp cảnh khốn cùng như bây giờ. Khi đưa vào phòng mổ, vị bác sĩ phát hiện thêm mảnh đạn còn sót lại trong đầu. Đó là mảnh đạn do pháo của cộng quân rơi trúng ngay hầm chỉ huy Đại đội 3/2 của Hùng. Trái đạn pháo bất nhân của Cộng quân gây thương tích trầm trọng cho Hùng, làm cho vị Thiếu úy ĐĐP chết tại chỗ. Hùng và những quân nhân bị thương vong liền được trực thăng đưa về Quân Y Viện ngay, mặc dù đạn pháo và pháo phòng không của quân địch dày đặc như mạng nhện. Một vị Đại úy đựợc đều động đến thay thế, nhưng chỉ vài ngày sau, cũng cùng chung số phận như vị Thiếu úy ĐĐP của Hùng.

 

 Vết thương chưa lành, nhưng Hùng đã bị xuất viện khi ngày oan nghiệt 30.4.75 đến. Thế rồi, do mảnh đạn còn sót lại, và thương tích do tai nạn xe, Hùng phải được giãi phẫu, nhưng rủi ro cho Hùng, anh đã nhận lảnh cái kết quả không may đó. Hình ảnh người lính oai hùng năm xưa đã biến mất, nay chỉ là một phế nhân!

 

Lúc còn chiến tranh, mạng người chỉ là lá rụng. Nhưng bây giờ, sinh mạng của con người cũng không khá hơn:

 

 “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi,

Rồi một mai khi hình hài lớn dậy...”

 

Từ cát bụi, con người lại trở về cát bụi. Kiếp sống thật quá mong manh!

 

Michigan, Mùa Thu năm 2009

BẢO ĐỊNH                                                                                 Bấm vào đây để xem hình Gia Đình 18 họp mặt tại Portland 2009