4511357996_1079x89.jpg 4511358053_64x82.jpg 4511342048_78x78.jpg

Gia Đình Sư Đoàn 18 Bộ Binh

Family of the 18th Division/ARVN

SƯ ĐOÀN 18 BỘ BINH

VÀ NHỮNG CHÀNG TRAI NẶNG NỢ TANG BỒNG HỒ HẢI

 

PHẠM PHONG DINH

 

          Sư Đoàn 18 Bộ Binh được thành lập ngày 16.5.1965 tại Xuân Lộc, tỉnh lỵ tỉnh Long Khánh, để đáp ứng nhu cầu chiến thuật và cải tổ quân đội, giữa lúc tình hình đất nước đang thực sự lâm vào giai đoạn nghiêm trọng, khi quân cộng sản Bắc Việt nhân tình hình chính trị rối ren của Việt Nam Cộng Hòa khởi sự xâm nhập qui mô các đơn vị chính qui vào miền Nam. Chính phủ dân sự dưới quyền lãnh đạo của Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát đã không tập trung được sức mạnh đoàn kết của quân dân rất cần thiết để đối phó với tình thế, và cũng không điều động hiệu quả các đại đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa để nghênh chiến với các lực lượng rất mạnh của binh đội Bắc Việt và các đơn vị phỉ cộng (Việt cộng) thuộc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Chính phủ dân sự quyết định rút lui, mời quân đội Việt Nam Cộng Hòa trở lại nắm chính quyền để ổn định tình hình và đương đầu với cuộc xâm lăng của Bắc Việt mà đã được nâng lên kích thước vượt quá tầm vóc một nước, với sự hậu thuẫn mạnh mẽ và vô giới hạn của toàn khối cộng sản quốc tế , đứng đầu là Liên Sô và Trung Cộng.

 

          Hội Đồng Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã đề cử Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu vào cương vị Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (tương đương Quốc Trưởng) và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ trong vai trò Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (tương đương Thủ Tướng). Ngày 19.6.1965, đánh dấu ngày Quân Lực Việt Nam Cộng đứng ra nhận trách nhiệm điều hành guồng máy quốc gia, xây dựng nền dân chủ và phát triễn đất nước, đồng thời đứng lên bảo vệ Tổ Quốc chống lại cuộc xâm lấn đại qui mô của khối cộng, mà Nga Hoa đã dùng con tốt Bắc Việt làm đạo quân xung kích tràn xuống phương Nam, trong mưu đồ bành trướng chủ nghĩa cộng sản.

 

          Một đất nước non trẻ chỉ mới chính thức hình thành từ năm 1954, một quân đội nhỏ bé trong thời điểm phôi thai của những năm 1960 đầy biến động đầy dẫy thù trong lẫn giặc ngoài, đã dám cầm súng đương cự một khối biển người và vũ khí giết người ghê rợn của 13 nước cộng sản, với số dân trên một tỉ người. Quân dân Việt Nam Cộng Hòa không có một sự chọn lựa nào khác, ngoài việc tận lực chiến đấu ngăn chống cơn bão đỏ cuồng chiến, cuồng sát, mà có thể nói là hung tợn và khát máu nhất trong lịch sử nhân loại. Tự Do Hay Là Chết. Hitler và Đức Quốc Xã đã giết 6 triệu người Do Thái, nhưng nếu được so sánh với những Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành và Hồ Chí Minh và những đảng cộng sản liên hệ, mà đã sát hại 100 triệu người, thì Hitler chẳng khác mấy một đứa bé đứng bên cạnh những tên đồ tể hung tợn. Một khác biệt rất lớn nữa: Hitler không giết người Đức, hắn chỉ giết dân tộc khác. Còn những tên đồ tể cộng sản, thật tàn nhẫn và cũng thật ngu ngốc đến không còn gì có thể ngu ngốc hơn được nữa, chúng giết hại chính dân tộc của chúng và lấy chuyện núi xương biển máu làm nguồn vui thú khoái cảm, mà chúng tìm được danh từ rất hoa mỹ đặt cho cái tên là “chuyên chính vô sản”. Đứng trước những đạo quân tanh tưởi mùi máu đó, giống như hàng đoàn âm binh ác quỷ trỗi dậy từ đáy địa ngục, quân dân Việt Nam Cộng Hòa cắn răng gồng gánh sức nặng chiến tranh trên đôi vai còm cõi của mình, mà cán cân chênh lệch đẵ thấy rất rõ. Nhưng là người Việt Nam, là hậu duệ của anh hùng liệt nữ giòng giống Lạc Việt có hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, quân dân miền Nam xác định: Đánh. Và Đánh Tới Cùng. Đánh để được làm người. Đánh để bảo vệ cho sự sống còn của dân tộc. Đánh để gìn giữ  quê huơng được tự do và hòa bình. Và đánh để cho cái gọi là chũ nghĩa cộng sản gớm ghiếc không được đâm chồi nẩy mầm trên dãi đất xanh tươi và hiền hòa này.

 

          Hội Đồng Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa gấp rút soạn thảo những kế hoạnh canh tân đất nước và cải tổ quân đội. Trong chiều hướng đó, Sư Đoàn 10 Bộ Binh chính thức ra đời ngày 16.5.1965 với cơ cấu được hình thành từ các Trung Đoàn 43, 48 và 52 Biệt Lập, cùng các đơn vị yểm trợ và tác chiến kỹ thuật. Sau đó, Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh cũng được gia nhập và trở nên thành phần cơ hữu của Sư Đoàn 10 Bộ Binh. Hai năm sau, ngày 1.1.1967, Sư Đoàn 10 Bộ Binh được cải danh thành Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Danh hiệu này được giữ  nguyên mãi về sau và không thay đổi nữa. Những Trung Đoàn 43, 48 và 52 Bộ Binh từng tham gia những chiến dịch tảo thanh cộng phỉ lớn như Đinh Tiên Hoàng, Thoại Ngọc Hầu, Nguyễn Huệ, Chủ Thắng, Gió Mới và Toàn Thắng. Tưởng cũng nên nhắc lại tại sao gọi thổ phỉ, cộng phỉ khi nói đến các thành phần cộng sản. Theo Hiến Pháp của hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa, thì những kẻ can tội ám sát, bắt cóc, tống tiền, cướp bóc, đánh giết người dân miền Nam, đều được coi là một bọn cướp, bọn phỉ phạm pháp và bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Từ năm 1960 trở đi, các thành phần nằm trong tổ chức Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã thực hiện sách lược khủng bố của cộng sản Bắc Việt “Dùng người miền Nam giết người miền Nam”. Nhận vũ khí từ Bắc đưa vào, lính Việt cộng miền Nam xâm nhập tận làng xã bắt cóc, ám sát các viên chức ở cơ cấu hạ tầng tận tụy với chính nghĩa quốc gia, đặt mìn đắp mô cản trở giao thông và giết hại dân lành, ban đêm sục sạo từng nhà dân dí súng và mã tấu đòi hỏi đóng góp tiền bạc, lương thực và bắt thanh thiếu niên nông thôn vào bưng hay mật khu làm dân công hay đi lính cho chúng, bắt các cô gái trẻ làm giao liên kiêm hộ lý tình dục cho bọn chúng. Những người dân hiền lành ấy nếu có ai can đảm chống lại hay chỉ lộ thái độ miễn cưỡng đều tức khắc bị Việt cộng đem ra đồng trống  chặt , chém, đập đầu, mổ bụng, cắt cổ, bắn hay chôn sống để gọi là “làm gương”. Nếu trọn một làng cùng phản đối, thì chúng đem nhiều quân đến đốt phá và tàn sát. Tất cả những tội ác ấy được quy định trừng trị nặng nề theo pháp luật Việt Nam Cộng Hòa dành cho những thành phần bất hảo gọi chung là sát nhân, cướp bóc và thổ phỉ. Điều 4 Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa ghi rõ với nguyên văn như sau: “Việt Nam Cộng Hòa chống lại chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức. Mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa cộng sản đều bị cấm chỉ.” Sau năm 1975, cộng sản Hà nội cũng ti toe “soạn” hiến pháp, để gọi là có chất “trí tuệ” với thế giới bên ngoài. Có lẽ chúng đã tham khảo bản Hiến Pháp của Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt Điều 4, nên những cán bộ “soạn” hiến pháp cộng sản cũng cố đưa vào Điều 4 của chúng như sau: Chỉ có Đảng Cộng Sản Việt Nam là cơ cấu duy nhất đại diện cho giai cấp công - nông lãnh đạo nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và thực hiện chuyên chính vô sản.

 

BÌNH ĐỊNH VÀ XÂY DỰNG

 

          Trong giai đoạn đầu từ năm 1965 đến năm 1969, Sư Đoàn 18 Bộ Binh chịu trách nhiệm Khu 33 Chiến Thuật, bao gồm những tỉnh Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy, Bình Tuy và Đặc Khu Vũng Tàu. Với địa thế mà diện tích rừng rậm chiếm đến 4/5, cộng với đồi núi hiểm trở, những trục giao thông huyết mạch như Quốc Lộ 1, 15 và 20 đang lâm vào tình trạng kém an ninh hoặc bị gián đoạn vì sự hiện diện của quân phỉ cộng. Các hành lang xâm nhập vào thủ đô qua các vùng Khánh Vân, Phú Hội thuộc Tiểu Khu Biên Hòa, những vùng trù phú đông dân cư tại Long Điền, Đất Đỏ thuộc Tiểu Khu Phước Tuy, thung lũng sông La Ngà thuộc Tiểu Khu Bình Tuy, các cửa khẩu Bàu Hàm, Bảo Bình thuộc Tiểu Khu Long Khánh đã bị cộng sản kiểm soát. Trong tình thế nguy ngập đó, Sư Đoàn 18 Bộ Binh một mặt tác chiến lưu động diệt địch, một mặt yểm trợ trực tiếp chương trình tái thiết và xây dựng nông thôn trong Khu 33 Chiến Thuật.

 

          Trong hai năm 1967 và 1968, Sư Đoàn 18 Bộ Binh cùng những lực lượng lãnh thổ đã khai thông được những trục lộ huyết mạch Quốc Lộ 1, 20, các Liên Tỉnh Lộ 2, 23, 25, 333. Những vùng Khánh Vân, Phú Hội, Nam Long Điền, Đất Đỏ đã được tái thiết và xây dựng, bảo đảm an ninh và phát triễn đời mới cho dân chúng. Những vùng thung lũng sông La Ngà, Bàu Hàm, Bảo Bình đã bị quân ta phong tỏa và kiểm soát, các trạm thu mua của cộng phỉ cũng bị phá hủy, làm tê liệt tiềm năng kinh tế của chúng.

 

          Người chiến sĩ Sư Đoàn 18 Bộ Binh hãnh diện mang trên vai áo huy hiệu “CUNG TÊN” trên một cái nền màu xanh tượng trưng cho Trời và Biển, biểu hiện khí phách ngang tàng của những chàng trai nước Nam thời chiến nuôi chí tang bồng hồ hải, làm gợi nhớ những áng thơ đầy hào khí của người anh hùng Nguyễn Công Trứ:

 

Chí làm trai Nam Bắc Đông Tây,

Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể

 

CHIẾN THẮNG QUÂN SỰ

 

          Sư Đoàn 18 Bộ Binh đã có hàng ngàn lần chạm súng ác liệt với cộng quân. Những trận đánh khốc liệt nhất của chiến sử sư đoàn còn vang danh là Võ Xu (1966), Suối Long (1967), Túc Trưng, Bảo Bình, Trảng Bom, La Ngà (1969). Trong những tháng đầu năm 1970, Sư Đoàn 18 Bộ Binh có mặt trong đoàn quân Tây tiến đánh vào lãnh thổ Cộng Hòa Khmer, tức Kampuchea hay Cambodia, theo lời yêu cầu của tân chánh phủ Lon Nol. Các chiến sĩ  Sư Đoàn 18 Bộ Binh dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ , đã dẫm nát những  mật khu, phá tan các cơ quan đầu não được mệnh danh là nơi bất khả xâm phạm của Trung Ương Cục Miền Nam, còn gọi là Cục R. Trong thời gian hơn một năm hành quân trên đất Chùa Tháp, quân ta đã giáp chiến nhiều trận đẫm máu với quân cộng tại Chup, Pean Cheang, Suong, Damber, Kândaol Chrum, Phum Khuar, v.v..

 

          Trong những tháng mùa hè 1972, cộng sản Bắc Việt đã tràn xuống tấn công ào ạt vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa và mở ba mặt trận lớn, cùng một mặt trận phụ. Mặt trận thứ nhất, tại Quảng Trị, sáu sư đoàn cộng sản có 400 chiến xa yểm trợ tiến đánh Sư Đoàn 3 Bộ Binh của Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai, đồng thời Sư Đoàn 324B Bắc Việt  tấn công Sư Đoàn 1 Bộ Binh  của Thiếu Tướng Phạm Văn Phú ở hướng Tây Huế. Mặt trận thứ hai nổ ra trên cao nguyên, khi hai sư đoàn địch tấn công Sư Đoàn 22 Bộ Binh của Đại Tá Lê Đức Đạt, chiếm được Tân Cảnh và đọ sức với Sư Đoàn 23 Bộ Binh của Đại Tá Lý Tòng Bá tại Kontum. Mặt trận thứ ba nổ lớn tại An Lộc, với bốn sư đoàn cộng bao vây Sư Đoàn 5 Bộ Binh của Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng. Ở Quân Khu IV, Sư Đoàn 1 Bắc Việt mở những cuộc tấn công nhằm cầm chân các Sư Đoàn 7, 9 và 21. Tuy nhiên Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Đoàn IV & Quân Khu IV, đáp ứng lời kêu gọi của Quân Khu III, đã nhanh chóng gửi toàn bộ Sư Đoàn 21 Bộ Binh và Trung Đoàn 15 của Sư Đoàn 9 Bộ Binh lên tăng viện An Lộc. Trong bối cảnh binh lửa ngút trời đó, người lính Sư Đoàn 18 Bộ Binh đã lưu động và hiện diện hầu hết tại những mặt trận ở Quân Khu III, đập tan những cuộc tấn công của cộng quân và ngăn chận mưu đồ xâm nhập thủ đô Sài Gòn qua các hành lang thuộc những tỉnh Hậu Nghĩa, Bình Dương, Phước Tuy, v.v.. Nhưng quan trọng hơn hết, Sư Đoàn 18 Bộ Binh được gửi lên tham chiến trên chiến trường An Lộc thay thế Sư Đoàn 5 Bộ Binh từ ngày 22.6.1972 và đã chiếm lại được tất cả những cao điểm vây quanh tỉnh lỵ này lọt vào tay địch quân từ hồi đầu mùa hè.

 

MẶT TRẬN CHÀ RÀY, TRUNG LẬP, DẦU TIẾNG

 

          Trong thời điểm tháng 3.1972, cộng sản Bắc Việt đã gây áp lực nặng nề tại tỉnh Hậu Nghĩa và Bình Dương ở  Chà Rày, Trung Lập thuộc quận Trị Tâm, với âm mưu đánh chiếm những nơi này hầu làm bàn đạp tiến chiếm Bình Dương và vùng ven đô để uy hiếp Sài Gòn. Đại Tá Lê Minh Đảo liền điều động Trung Đoàn 43 Bộ Binh của Đại Tá Lê Xuân Hiếu đến trấn giữ và giải tỏa áp lực địch. Trong thời gian mà hàng chục ngàn trái đạn của giặc dội xuống An Lộc gây những thảm cảnh chết chóc lên dân chúng và sự đổ nát tan hoang, thì tại mặt trận Bình Dương, trong vòng hai tháng, từ ngày 24.4.1972 đến 29.6.1972, Trung Đoàn 43 Bộ Binh đã đụng độ nhiều trận dữ dội với địch tại Chà Rày và Trung Lập, cường độ chiến cuộc của nó cũng đã lên tới hồi đỏ lửa. Trong trận giặc tấn công Đồn Chà Rày, quân ta đã chống cự quá ác liệt và đánh bật chúng ra khỏi khu vực này, với 321 cán binh sinh Bắc nhưng  tử Nam.

 

          Ngày 28.4.1972, quân địch đã tung vào mặt trận Trị Tâm Trung Đoàn 271 tăng cường thêm một tiểu đoàn trợ chiến tấn công các đơn vị của Trung Đoàn 43. Có lẽ ban tham mưu của Trung Đoàn 271 Bắc Việt đã ước tính sai khả năng tác chiến cũng như tinh thần chiến đấu của người lính Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Cho nên trong suốt sáu ngày giao tranh khốc liệt, Trung Đoàn 271 và tiểu đoàn trợ chiến gần như bị xóa sổ. Cũng trong thời gian này, cộng quân mở thêm mặt trận Phước Tuy, tung quân đánh chiếm quận Đất Đỏ và nhiều xã thuộc quận Long Điền, cô lập quận Đức Thạnh và Xuyên Mộc, với ý đồ gây những đám cháy tràn lan để phân tán sức mạnh của quân ta và làm bối rối cấp chỉ huy chiến trường. Tuy nhiên, Đại Tá Đảo đã tung ra Trung Đoàn 48 Bộ Binh rất sung sức của Trung Tá Trần Bá Thành, mà đã đánh tan tác Trung Đoàn 274 cộng sản và Tiểu Đoàn D 445 địa phương. Chiến sĩ Trung Đoàn 48 đã tiến vào tái chiếm quận Đất Đỏ và những xã quận Long Điền. Cộng quân ở quận Đức Thạnh hối hả rút lui sau khi chạm mạnh với các tiểu đoàn dũng mãnh của Trung Đoàn 48.

 

SƯ ĐOÀN 18 BỘ BINH VÀ AN LỘC ANH DŨNG

 

          Sau những chiến thắng dồn dập ở Bình Dương, các lực lượng giặc đã tẩu tán sâu vào những vùng rừng núi và mật khu nằm liếm vết thương, người lính Sư Đoàn 18 Bộ Binh chưa kịp hưởng lấy những ngày nghỉ ngơi sau những cuộc chiến đấu cay cực, thì đã có lệnh vận chuyển các anh lên chiến trường Bình Long, với nhiệm vụ mới: Giải tỏa Quốc Lộ máu 13.

Ngày 22.6.1972, Sư Đoàn 18 vào vùng trách nhiệm. Cho đến ngày 10.7.1972, quân ta đã chạm súng dữ dội với chốt địch tại Tàu Ô. Đây là địa danh mà đã rất quen thuộc với người hậu phương trong những ngày trước đây, khi Sư Đoàn 21 Bộ Binh đánh thông đường từ Chơn Thành lên. Sư Đoàn 7 Bắc Việt đã gửi những Trung Đoàn 101 và 209 thiết lập chốt chận cứng ngắt từ đoạn đường phía Bắc Chơn Thành lên tới Tàu Ô. Cuộc giải tỏa con đường máu 13 này đã gây nhiều thiệt hại cho Sư Đoàn 21 Bộ Binh, nhưng quân ta cũng đã buộc Sư Đoàn 7 Bắc Việt phân tán bớt hai trung đoàn, nhờ đó áp lực địch đè nặng lên Sư Đoàn 5 Bộ Binh đã được chiến sĩ Tia Sét Miền Tây tháo gỡ cho rất nhiều. Giờ đây, khi Sư Đoàn 21 Bộ Binh trở về Quân Khu IV, thì Sư Đoàn 25 và 18 Bộ Binh chia nhau vùng trách nhiệm thay thế. Đến ngày 12.7.1972, toàn bộ Sư Đoàn 18 Bộ Binh đã chính thức nhập cuộc trên chiến trường Bình Long -  An Lộc. Trong những ngày đầu, người lính Cung Tên Miền Đông đã chịu đựng mỗi ngày hàng trăm trái đạn pháo do những tiền sát viên cộng sản ở Đồi 169 và Đồi Gió điều chỉnh bắn vào An Lộc. Ngay khi vừa nhảy xuống An Lộc, Đại Tá Lê Minh Đảo đã cho quân ta bung ra để mở rộng vòng đai an ninh thị xã. Để nhổ những cái gai trước mắt, vị danh tướng trẻ đầy tài năng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ấy quyết định phải thanh toán hai ngọn đồi chiến lược này.

 

          Cao điểm chiến lược thứ nhất mang tên 169, vì độ cao 169 mét từ mực nước biển, nằm về phía Đông Nam thị xã An Lộc. Trong những ngày đầu của mặt trận An Lộc, Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù thuộc Lữ Đoàn 1 Dù chia quân lên trấn giữ Đồi Gió và Đồi 169. Cộng quân đã điều ít nhất hai trung đoàn tiến đánh quân Dù để giành cao điểm chiến lược này. Chiến sĩ Tiểu Đoàn 6 Dù mặc dù quân số ít, các pháo đội bị hư hại vì đại pháo 130 ly của địch, đã chiến dấu anh dũng, bắn hạ hàng chục xe tăng cộng quân trước khi triệt thoái. Các chiến sĩ Dù rút qua một cái làng Miên nhỏ gọi là Srok Toncui đi về hướng Nam, rồi được trực thăng đón bốc đưa về hậu cứ tái tổ chức, để các anh sẽ trở lại đi hết con đường An Lộc của mình. Chính Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, với những tân binh tươi rói mới bổ sung từ các quân trường về, đã xông qua những chốt chận đầy đặc của địch trên Quốc Lộ 13 đánh thông đường vào tới tận cửa ngỏ An Lộc bắt tay với quân Dù nằm trong thành phố trong những ngày tháng 6.1972. Đó là thời điểm đánh dấu chấm hết cuộc bao vây An Lộc của các sư đoàn cộng quân.

 

 

 

Phần  1  |  2