SƯ ĐOÀN 18 BỘ BINH

VÀ NHỮNG CHÀNG TRAI NẶNG NỢ TANG BỒNG HỒ HẢI
(Phần 2)

  Giải quyết được cái gai 169, các đơn vị của Trung Đoàn 48 Bộ Binh tiến về phía Đồi Gió, với cao độ 170 mét nằm về hướng Đông Đông Nam An Lộc. Không biết tại sao cao điểm mang tên Đồi Gió. Hoặc vả khi người lính chúng ta đóng quân đào giao thông hào hầm hố trên đỉnh đồi, ngày đêm nghe tiếng gió hú không ngừng từ những cánh rừng cao su bạt ngàn chung quanh An Lộc đưa tới, nên đã gọi nó là Đồi Gió. Đồi Gió nằm ở một địa thế thật khó khăn và hiểm trở, cộng quân đã bố trí công sự phòng thủ trên đó hết sức kiên cố. Đồi Gió còn trong tay cộng quân ngày nào, thì ngày đó An Lộc vẫn còn trong tình trạng bị khống chế rất nguy hiểm. Trung Tá Thành,Trung Đoàn Trưởng, quyết định tung Đại Đội 48 Trinh Sát và Tiểu Đoàn 1/48 tấn công tái chiếm Đồi Gió. Cuộc chiến đấu đã diễn ra ác liệt suốt ngày 9.8.1972. Quân cộng sản có được ưu thế từ trên đỉnh đồi, chúng thảy lựu đạn, chất nổ và dùng súng không giật 75 ly, súng cối và đại liên bắn xuống các cánh quân của ta từ chân đồi tiến lên. Quân ta lâm vào tình thế và vị trí hết sức bất lợi, gần như là phơi lưng trần trụi hứng đủ mọi thứ hỏa lực của địch trút xuống từ cao điểm. Đến 5 giờ chiều, các chiến sĩ Đại Đội 48 Trinh Sát gan dạ và dũng cảm đã leo lên đồi dùng M72 thụt ì ầm vào hầm hố địch dọn đường cho Tiểu Đoàn 1/48 xung phong lên đánh cận chiến. Lựu đạn và lưỡi lê đã tỏ ra rất hiệu quả. Lính Trung Đoàn 48 thanh toán từng chốt và hầm cố thủ một, chiếm tới đâu quân ta bám chặt tới đó. Những toán cảm tử xông xáo trên đỉnh đồi lấn dần dần từng mảnh một, đẻo từng mảng một, cho đến khi quân ta tràn ngập Đồi Gió. Chiến sĩ Tiểu Đoàn 1/48 tìm thấy 31 xác cán binh địch, thu được 11 súng cộng đồng, trong đó thu hồi lại được 6 khẩu đại bác 105 ly, phá hủy một chiến xa T54 và 6 kho đạn đại bác quan trọng.

  Đến lượt Chiến Đoàn 43 của Trung Tá Lê Xuân Hiếu nhập cuộc tại mặt trận Quản Lợi. Ngày 3.9.1972 trong lúc các cánh quân Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, 81 Biệt Cách Dù và Kỵ Binh nhích dần về phía Cổ Thành Đinh Công Tráng ngoài Quảng Trị, thì các chiến sĩ Trung Đoàn 43 Bộ Binh cũng áp sát tới phi trường Quản Lợi ở Bình Long nằm về hướng Đông Bắc An Lộc. Đây là một vị trí chiến lược và khó khăn nhất trong những mục tiêu tái chiếm, chưa kể những trở ngại chồng chất trong việc tiếp tế đạn dược, nước uống... Trước đây Lữ Đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ đã xây cất những công sự thật vững chắc đúc bằng bê tông cốt sắt. Do đó mà cấp chỉ huy địch đã chọn nơi này để đặt bộ chỉ huy đầu não của Công Trường 9 Bắc Việt, từ đó điều động những cuộc tấn công vào An Lộc. Địa thế tiến vào Quản Lợi rất trống trải và rất dễ làm mục tiêu nhắm bắn cho đủ loại hỏa lực, cộng với hầm hố quá kiên cố đã gây thật nhiều gian nan cho người lính Trung Đoàn 43 Bộ Binh. Quân ta chiếm từng ụ đất, từng gốc cao su một và lấn dần vào từng lô cốt một. Mọi thứ hỏa lực đều tỏ ra vô hiệu trước bề dầy của bê tông. Chỉ có lựu đạn tung vào làm câm họng những khẩu đại liên của giặc, rồi quân ta tràn lên dùng lưỡi lê giáp chiến. Cuộc đánh lá cà đã diễn ra ghê rợn và kinh hoàng. Chiến sĩ Cung Tên mặt đối mặt với binh đội khát máu cộng sản, những mũi lê nhiều khía và nhọn hoắc của quân địch cũng tua tủa đẫm đầy máu của người lính Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Nhưng cuối cùng, bằng tất cả cơn thịnh nộ sau những tội ác mà giặc đã trút lên đầu người dân vô tội An Lộc từ ngày 13.4.1972, người lính của chúng ta đã tiêu diệt gần như toàn bộ lực luợng cố thủ Quản Lợi của giặc, với 367 cán binh bỏ xác tại trận. Với con số chết chóc quá lớn đó, cũng đủ để hình dung mức độ quá đỗi tàn khốc của trận đánh tái chiếm phi trường Quản Lợi.

  Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế, một trong những vị Tiểu Đoàn Trưởng xuất sắc nhất của Sư Đoàn 18 Bộ Binh, là người đã tham dự trận đánh tái chiếm phi trường Quản Lợi. Thiếu Tá Chế đã tường thuật lại diễn tiến những khó khăn đẫm máu mà chiến sĩ Sư Đoàn 18 Bộ Binh phải đương đầu để hoàn thành nhiệm vụ trong bài viết TÁI CHIẾM PHI TRƯỜNG QUẢN LỢI TẠI MẶT TRẬN AN LỘC, BÌNH LONG:

  Kể từ khi nhảy vào An Lộc thay thế Sư Đoàn 5 Bộ Binh để bảo vệ tỉnh lỵ của Bình Long anh dũng, Sư Đoàn 18 Bộ Binh đã chịu nhiều tổn thất do dàn pháo của cộng quân rót vào không ngừng nghỉ, ngày cũng như đêm. Những người lính tử thủ An Lộc, có người đã chết ba lần ! Những cái chết vội vàng, vội chôn tại chỗ, lại bị pháo địch dội trúng nổ tung, lại chôn, lại bị đạn pháo... Do đó, nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của Sư Đoàn là chiếm lại những cao điểm chung quanh thị trấn đã lọt vào tay địch từ những ngày đầu của cuộc chiến, như Đồi Gió, Đồi 169, và nới rộng vòng đai an ninh.

  Tiểu Đoàn 2 thuộc Trung Đoàn 43 do Thiếu Tá Nguyễn Văn Thoại chỉ huy và tôi, Đại Úy Nguyễn Hữu Chế, Tiểu Đoàn Phó, vừa chính thức nhận chức được một tháng, cùng Tiểu Đoàn nhảy vào An Lộc hoạt động vùng Xa Cam, cửa ngõ đi vào thị trấn từ hướng Nam trên Quốc Lộ 13. Ngay từ những ngày đầu, những cuộc chạm súng đã diễn ra vô cùng ác liệt. Khi Tiểu Đoàn tiến sâu về hướng Tây lối 5 km, thì bị cộng quân bao vây, khóa chặt. Pháo binh và máy bay từ Hạm Đội 7 ngoai biển thay nhau làm tuyến lửa ngăn chận. Ban đêm thì hai chiếc máy bay từ một căn cứ bên Thái Lan đến bao vùng, sử dụng loại đạn 40 ly có đầu nổ lân tinh bắn chận địch vòng quanh vị trí. Mỗi chiếc hoạt động bốn tiếng đồng hồ cho đến lúc trời sáng. Cộng quân nhiều lần mở đợt xung phong muốn tràn ngập vị trí, nhưng tất cả đều bị đẩy lui trước sức chống trả quyết liệt của tất cả chiến sĩ. Nhưng bất hạnh thay, mới bước qua ngày thứ hai, thì Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng bị tử thương cùng một số binh sĩ trong một đợt tấn công của địch. Tôi liền được đề cử lên thay thế, Đại Úy Lê Văn Vẹn, Khóa 20 Đà Lạt, Đại Đội Trưởng Trinh Sát 43 được cử vào phụ tá. Cuối cùng sau mười ngày bị vây khốn, tôi đã đưa được Tiểu Đoàn 2/43 trở ra Xa Cam an toàn. Cấp chỉ huy của cộng quân dù điên cuồng, nhưng quân sĩ của chúng đã mệt mỏi, mất tinh thần, nên trong những cuộc hành quân sau đó tại vùng trách nhiệm, Tiểu Đoàn đã dễ dàng bứng đi những chốt địch lẻ tẻ. Có lần trong một cuộc chạm súng, Tiểu Đoàn đã tịch thu một số súng lối trên 30 khẩu đủ loại, với mảnh giấy viết vội: “Tặng các anh, chúng tôi về Bắc.”

  Rời vùng Xa Cam, Tiểu Đoàn 2/43 vào trấn thủ khu vực phía Tây của thị trấn, Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đặt tại Kitô Vua. Khi Sư Đoàn mở cuộc hành quân tái chiếm phi trường Quản Lợi, Tiểu Đoàn 2/43 và Tiểu Đoàn 3/43 của Thiếu Tá Lê Thanh Quang, Khóa 16 Đà Lạt, được giao nhiệm vụ làm nỗ lực chính. Trên đường tiến quân, Tiểu Đoàn đã chạm địch liên miên, nhưng những khẩu hỏa tiễn cá nhân M72 đã được quân ta sử dụng thật hữu hiệu. Việc sử dụng lựu đạn chính xác của chiến sĩ Tiểu Đoàn cũng đã làm Việt cộng kinh hoàng. Có một chốt cấp C, tức đại đội, chỉ sau vài giờ giao tranh, Tiểu Đoàn đã làm chủ dể dàng. Tịch thu tài liệu mới biết rằng C của chúng chỉ còn vỏn vẹn 25 tên. Đến trưa, khi Tiểu Đoàn tiến sát đến ngọn đồi, lập đầu cầu để đi vào phi đạo, địch quân đã chống trả mãnh liệt. Nhưng dưới sự yểm trợ hữu hiệu và chính xác của pháo binh và phi cơ oanh tạc, lần lượt các chốt địch đều bị tiêu diệt. Nhiều tù binh bị bắt sống, đa số còn rất trẻ, và phần lớn đều xin hưởng qui chế chiêu hồi. Có một điều đau lòng là trong một chốt bị diệt, có một tên còn sống và bị thương, chân của anh ta bị xiềng chung với các tên khác bằng dây điện thoại Trung Cộng. Anh y tá Tiểu Đoàn vì lòng nhân đạo, vội nhảy xuống hầm băng bó, tôi chưa kịp ngăn cản, anh đã nhảy xuống. Một trái lựu đạn tung ra, người lính Quân Y giàu lòng nhân ái của tôi đã ngã gục.

  Đến 5 giờ chiều cùng ngày, Tiểu Đoàn đã làm chủ hoàn toàn ngọn đồi, lập được đầu cầu tiến vào phi trường Quản Lợi. Giai đoạn một đã hoàn tất, nhưng giai đoạn hai cũng thật là gay go. Từ ngọn đồi vừa mới chiếm được phải qua một thung lũng nhỏ cây cối rậm rạp, rồi một thế đất cao, bằng phẳng trước khi đến phi đạo. Thung lũng nhỏ với rừng cây rậm rạp đó đã là trở ngại rất lớn cho Tiểu Đoàn 2/43 trên đường tiến quân. Thung lũng đó cũng đã cướp đi mất nhiều sinh mạng của nhiều chiến sĩ trong Tiểu Đoàn, nên đã được mệnh danh là “Thung Lũng Tử Thần”. Từ thung lũng đi lên triền dốc cao là cả một hệ thống chốt địch dầy đặc. Đạn pháo và bom đã không làm giảm được chút nào sức chống trả mãnh liệt của chúng. Tiểu Đoàn đành phải tiến hành kế hoạch đánh đêm. Đánh đêm là sở trường của Việt cộng, chúng không ngờ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lại có thể sử dụng chiến thuật quen thuộc của chúng. Tôi đã chọn những chiến binh gan dạ nhất, giàu kinh nghiệm chiến đấu nhất tổ chức thành những tổ 3 người, trang bị nhiều lựu đạn, và đặc biệt một cây gậy dò đường như gậy của người mù. Khi màn đêm buông xuống là lúc những toán biệt kích này bắt đầu hoạt động. Những toán 3 người cứ mò mẫm bò đi trong đêm tối. Khi cây gậy dò đường gặp chỗ trũng là một trái lựu đạn ném vào. Cứ thế, trong một đêm các chốt địch đã bị bứng đi, trong lúc quân bạn hoàn toàn vô sự. Cuối cùng Tiểu Đoàn đã tiến đến được đầu phi đạo. Phi đạo trải dài lối 1 km về hướng Đông. Phía Nam phi đạo là khu nhà dân thưa thớt, phía Bắc là một dãy công sự phòng thủ kiên cố do Lữ Đoàn Không Kỵ Hoa Kỳ để lại. Xa hơn là triền dốc thoai thoãi đến một thung lũng hẹp, sau đó nối tiếp đồi núi trùng trùng điệp điệp. Địa thế đó rất thuận lợi cho Việt cộng phòng thủ và đường rút lui của chúng. Sau một thời gian quan sát trận địa, Tư Lệnh Sư Đoàn, Đại Tá Lê Minh Đảo và Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 43, Trung Tá Lê Xuân Hiếu đã hơn một lần vào tận nơi xem xét trận địa.

  Ngày N., pháo binh tác xạ và phi cơ oanh kích mục tiêu suốt ngày. Đến chiều, trước khi mở cuộc xung phong, pháo binh đã tạo một màn khói dầy đặc. Hai đại đội đã được tung ra mở cuộc tấn công. Đại Đội Trinh Sát 43 của Đại Úy Nguyễn Tấn Chí tăng phái tấn công trực diện, nhưng những khẩu súng cộng đồng của cộng quân gồm 12 ly 7, đại liên, trung liên, súng cối 61 ly, 82 ly đồng loạt nổ. Chúng đã chống cự mãnh liệt. Tiểu Đoàn đã chịu một sự thiệt hại đáng kể. Cuộc tấn công phải tạm ngừng. Tôi lượng gía tình hình và báo cáo lên trên. Đêm đó là một đêm dài không ngủ. Cảm động nhất là trong chuyến tiếp tế đêm đó, Trung Tá Hiếu đã gửi cho tôi mấy lon bia và một ít đồ nhắm. Tôi cho đệ tử bò ra tuyến đầu trao cho Đại Úy Chí một ít. Ngày hôm sau, Sư Đoàn cho một Trung Đội Hỏa Tiễn TOW của Chuẩn Úy Phương vào tăng phái. Đại Tá Tư Lệnh cho tôi bảy trái, nghe nói mỗi trái trị giá là 3 triệu đồng theo thời giá lúc đó (tương đương 2,500 đô la). Nhưng để đạt được mục tiêu mà tiết kiệm được xương máu của quân sĩ, Tư Lệnh Sư Đoàn đã cho tôi sủ dụng không đúng chức năng của nó, nghĩa là mục tiêu không phải là xe tăng địch đang di động. Viên đạn khi bắn ra, từ nòng súng kéo theo một sợi dây điều khiển bằng kim tuyến dài lối 3 km, có thể luồn lách để tiến đến mục tiêu. Hai viên đạn vừa bắn ra, cùng những trái hỏa tiễn cá nhân loại bốn nòng có tên là XM202, đã tạo nên sức nóng trên 3,000oC. Cộng quân như đàn ong vỡ tổ chạy ra tán loạn lao xuống thung lũng, bỏ lại đồng đội thương vong và vũ khí cộng đồng. Lợi dụng tình hình thuận lợi, Tiểu Đoàn dàn hàng ngang tiến lên. Mục tiêu đã bị thanh toán dễ dàng. Một số lượng lớn vũ khí bị tịch thu, trong đó có một khẩu 12 ly 7, hai khẩu 61 ly và nhiều thương binh, tử thương nằm la liệt.

  Phi trường Quản Lợi đã được tái chiếm, quân ta đã hoàn toàn làm chủ một khu vực rộng lớn kể từ khi cuộc chiến xảy ra. Áp lực của cộng quân giảm dần. Chiến sĩ hữu công được tưởng thưởng, riêng tôi được ân thưởng Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương kèm Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu và một Bronze Star With “V” Device do vị Tướng cố vấn Quân Đoàn III gắn tại An Lộc.

  Trong thời điểm đó thì đơn vị cuối cùng của Sư Đoàn 18 là Trung Đoàn 52 Bộ Binh của Trung Tá Ngô Kỳ Dũng cũng đã lập chiến công bằng cuộc chiến thắng Phú Kiên, với hai Tiểu Đoàn 3/52 và 4/52 tham chiến. Tiếng súng của hai bên nổ rền suốt một ngày, để cuối cùng cộng quân buộc phải tháo chạy và bỏ lại 67 xác cán binh. Nhưng sau những thất bại đó, bọn chỉ huy cộng sản vẫn chưa chịu từ bỏ ý định nướng thêm quân của chúng một cách dã man và vô ích khi tung một lực lượng lớn đóng chốt trên con đường độc đạo nối liền phi trường Quản Lợi và thành phố An Lộc. Quân cộng nuôi ý định cắt đứt tiếp viện và lương thực của cánh quân Trung Đoàn 43 vừa chiến thắng tại mặt trận Quản Lợi. Ngày 8.9.1972, Tiểu Đoàn 2/43 và 3/43 của Trung Đoàn 43 hành quân diệt chốt địch. Sau hơn năm tháng trên chiến trường khắc nghiệt, quân cộng đã rất mệt mỏi, những chốt chận của chúng không còn có thể so sánh với chốt Tàu Ô - Chơn Thành ở phía Nam, nên Trung Đoàn 43 đã nhổ bật được đoạn đường gai góc Quản Lợi - An Lộc, với thêm 65 cán binh cộng quân được đưa tiễn xuống địa ngục. Lại đến lượt các đơn vị của Trung Đoàn 48 Bộ Binh của Trung Tá Trần Bá Thành mở rộng vòng đai kiểm soát và càn quét tàn quân cộng. Ngày 23.9.1972, trong khu vực đồn điền Quản Lợi, Tiểu Đoàn 3/48 đã chạm súng rất mạnh với một tiểu đoàn địch. Mỗi bên giành nhau từng gốc cao su một. Quân ta lấn dần, lần dần từng tấc đất một buộc quân địch phải thối lui ngày càng ra xa hơn vòng đai An Lộc. Chiến cuộc An Lộc đến đây được coi là đã lụi tàn đối với ảo mộng tổng nổi dậy của Võ Nguyên Giáp và cộng sản Hà Nội.

  Sau chiến thắng ngày 29.5.1972 tại Kontum, ngày 16.9.1972 tại Quảng Trị và 23.9.1972 tại An Lộc, Hà Nội buộc phải công nhận rằng chúng đã thua đậm. Những sư đoàn tinh nhuệ nhất đều đã bị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đánh cho tan hoang, nhiều đơn vị bị xóa sổ. Không chút hy vọng nào nữa về một chiến thắng đầy hoang tưởng, bè bọn cộng sản Hà Nội nhục nhã bước vào bàn hòa đàm Ba Lê trong những ngày đầu tháng 10.1972 để xin được ký kết Hiệp Định vào ngày 31.10.1972. Tại sao chúng nôn nóng muốn Hiệp Định Ba Lê được ký ngay trong tháng 10.1972, mà không phải là một thời điểm nào đó xa hơn. Có nhiều lý lẽ có thể giải đoán được ý đồ gian xảo này.

  Thứ nhất, cộng quân cần tức khắc một cuộc ngừng bắn để tránh không bị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hành quân tiêu diệt những đơn vị đã quá sa sút và thiếu hụt thảm hại của chúng. Hà Nội không thiết tha gì đến nền hòa bình mà nhân dân hai miền Nam Bắc hằng khao khát từ hai mươi năm qua, chỉ đơn giản là chúng cần thời gian để phục hồi binh lực, rồi khi thời cơ thuận tiện chúng sẽ mở ra những cuộc gọi là “tổng nổi dậy” mới thấm đẫm đầy máu và nước mắt người vô tội nữa.

  Thứ hai, quá kinh khủng trước hỏa lực hùng hậu vô giới hạn của Không Quân và Hải Quân Hoa Kỳ mà đã yểm trợ thật tích cực cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đi đến chiến thắng, Hà Nội muốn “tống khứ” quân đội và hỏa lực Mỹ ra khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt, để chúng được yên tâm rằng, khi có một mùa hè đỏ lửa 1973 hay 1974 tiếp theo, quân Nam không còn giữ được thế thượng phong về hỏa lực nữa.

  Chỉ có vậy thôi. Hòa bình, ngừng bắn, gia đình đoàn viên, những con sông nước mắt, những biển máu và tiếng kêu khóc thảm thiết của nhân dân hai miền đều là những danh từ không hề có trong sách lược chiến tranh của quân cộng sản Bắc Việt và quốc tế.

PHẠM PHONG DINH

Phần 1  | 2

You are viewing the text version of this site.

To view the full version please install the Adobe Flash Player and ensure your web browser has JavaScript enabled.

Need help? check the requirements page.


Get Flash Player